Thực hư của thực: Hư! (Cuộc săn tồi-hoan)

Từ những thầy tu cho tới những học giả theo tư tưởng hiện sinh và cả những gã hipster, hành trình săn tìm cái tôi đích thực đã kéo dài hàng nhiều thế kỷ qua. Liệu chúng ta có nên từ bỏ?




“Hãy là mình. Ai khác đều là chính họ hết rồi.” Châm ngôn khá phổ biến này, thường được quy nhầm cho Oscar Wilde, xuất hiện không chút giả trân áy náy nào trong những quyển tự trợ hay những bài blog tung hê tính đích thực. Dễ hiểu, mớ sách hay blog kia dùng lời phán “hãy là chính mình” làm mục tiêu xứng đáng, vững gần như bàn thạch cho mỗi chúng ta. Nền văn hóa của chúng ta đã bị bão hòa với tính chân nguyên, đặc trưng danh tính: chúng ta mãi “kiếm tìm bản thân”, “hiện thực hóa bản thân”, “là chính mình” “chuyên chính”, “rời bỏ lối mòn”, “thoát khỏi đám đông”. Chúng ta bỏ ra cả thanh xuân chỉ để hình dung xem mình là ai; bỏ ra những năm về già cố gắng sống đúng với bản chất; và bỏ ra quãng thời gian chính giữa để chìm vào cuộc khủng hoảng hoang mang không biết mình có phải là con người mình từng hình dung hay chăng.


Dưng mà câu trích lụi của “Wilde”, dẫu có thể chỉ là ngụy tạo, lại gợi ra một thực tế ngờ nghệch tại cốt lõi của tính chân thực. Cái sự tự chiếu soi này dường như là chuyện không đâu. Cớ sao lại bỏ ra quá nhiều nỗ lực để thành ra con người mà chúng ta rốt cuộc cũng sẽ trở thành? “Tới cuối cùng”, như nhà văn David Foster Wallace từng nói, “rốt cuộc ta cũng trở thành chính ta”.


Và còn đó một phi lý ngay ở đây không dễ dàng nhận ra. Những người khác có thể đều là của họ hết rồi, nhưng nỗ lực làm chính mình chính là con đường “bao chắc” để ta trở thành kẻ khác, đặc biệt trong bối cảnh văn hóa siêu hàng hóa và siêu giám sát nơi mà chúng ta luôn dường như đang diễn trên sân khấu. Nếu ai đó hoặc tổ chức nào đó tuyên bố họ chú trọng vào tính “chân nguyên” “nguyên bản”, ta gần như chắc chắn lũ đó là những kẻ giả hình “luôn chảy thuận dòng”. Như chính Wilde cũng từng viết : ‘Hầu hết mọi người đều là kẻ khác. Suy nghĩ của họ chỉ là quan điểm của kẻ khác, cuộc sống của họ chỉ là sự bắt chước, niềm đam mê họ nêu ra thực chất chỉ là một câu trích dẫn.’ (hoặc một câu trích dẫn sai.)

Đâu là nơi bắt nguồn của tất cả những ngõ cụt và nghịch lý tự xây này?


Ngoài sự tràn lan đại hải ra, tính đích thực chẳng còn tí cấp thiết nào nữa. Trước hết, nó xa xỉ: chỉ có những ai đủ thoải mái chẳng cần lo thu vén nhu yếu trong cuộc sống mới có thể quan tâm tới mình là ai. Thứ hai, khái niệm này cũng có câu chuyện riêng. Những nền văn hóa khác và những giai đoạn lịch sử khác không coi trọng đủ cái tôi hoặc không khinh khi mấy chuyện tuân thủ, rập khuôn. Sự chứng tỏ bản thân thường mang tính tôi thuộc, nếu không muốn nói là hoàn toàn bị lép vế, trước nghĩa vụ dành cho gia đình, cho truyền thống, hay dành cho Thượng Đế. Nhìn về lịch sử cũng như sự ngẫu nhiên của tính này - như với bất kì khái niệm nào - biết đâu có thể giúp chúng ta hiểu được cách tiếp cận chuẩn xác nhất.

Bận tâm về bản chất trông có vẻ, ít nhất thuở ban đầu, có trong đó một thành tố tôn giáo.


Quả thật, nhu cầu truy tìm bản chẩt ở phương Tây không thể hiểu đúng được nếu không nhắc tới một Thiên Chúa giáng trần và quyết định trở thành con người. Một cách để hiểu về khái niệm này chính là di sản để lại sau khi Chúa giã từ cuộc sống. Khi nhân tính hóa Đấng Bề trên, Cơ Đốc giáo đã tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh trong nội tâm tín đồ. Trong hình hài của Chúa Giêsu, người mà Wilde xem là “theo chủ nghĩa cá nhân đầu tiên trong lịch sử”, Chúa không phải chỉ là một đấng thể để phụng thờ, mà chính “một trong chúng ta”, một con người với câu chuyện về cuộc đời lưu giữ những giáo lý dành cho những tôi tớ bé mọn của Người. Người chịu sự cám dỗ, phản đối tín điều đạo đức giả, và sự tự nguyện chịu chết tương đồng với cuộc đấu tranh hằng tồn ở mỗi Kitô hữu: “Chúa Giêsu sẽ làm gì trong hoàn cảnh này?”


Để hiểu rõ hơn điều mới mẻ ở đây, hãy thử ngẫm lại sự khác nhau giữa 40 năm của Moses trong sa mạc với 40 ngày của Chúa Giêsu. Đấu tranh của Moses là ở ngoại tại: trở thành tôi trung của Thiên Chúa, làm theo lời (khá khe khắt của) Ngài, dẫn dắt dân được Thiên Chúa chọn đến vùng Đất Hứa. Ngược lại, cuộc đấu tranh của Chúa nằm bên trong, nặng gánh tâm lý: bị Chúa Cha bỏ mặc một mình, Người phải cô độc chống lại cám dỗ bằng sức mạnh bên trong, và trở thành một mẫu gương cho những ai tin vào Người. Chúa Giêsu không chỉ đơn thuần vừa có bản tính con người và Thiên Chúa trong một bản thể. Người ban cho cuộc sống của con người tính thánh linh. Câu chuyện của Người hiển nhiên còn tạo ra cả một thế giới nội tâm, kịch tích hóa thế giới ấy, và nâng nó lên tới một cõi có tầm quan trọng tuyệt đối về tinh thần. Một lịch sử hà khắc với bản thân khổ lụy, nhọc nhoài từ đó mà ra.




Có lẽ linh hồn chịu khổ lụy sớm nhất là của thánh Augustine, một triết gia và linh mục ở thế kỉ IV vùng Bắc Phi thuộc La Mã, người thường được công nhận đã mở màn cho suy nghĩ nội quan phản ánh của ngày nay. Một đứa con trai trụy lạc của một người mẹ sùng tín, Augustine đắm chìm trong dục vọng, Mani dị giáo, những Kinh điển trước giây phút tìm thấy Chúa Giêsu, một khoảng thời gian dài đằng đẵng trong cuộc khủng hoảng nội tâm và sự cải hoán đóng vai trò điểm tựa cho quyển Bộc bạch của ông sau này. Trong quyển tự truyện này, ta tìm thấy một nội quán khắc khoải, khát khao và thậm chí còn cả sự phân tách vừa mỉa mai vừa tự cho mình là trung tâm, vốn biểu trưng cho khái niệm tìm kiếm bản thể ngày nay. “Ôi, lạy Chúa, xin ban cho con trở nên tinh tuyền,” Thánh Augustine viết trong tiếng lòng của một người trai trẻ - ‘nhưng chưa phải ngay lúc này’ .


Mục tiêu của thánh Augustine không phải là tán dương, hiện thực hóa hay đi tìm cái tôi nhằm thuật lại quá trình mình đã thay đổi ra sao. Ngài cố gắng, như triết gia người Canada Charles Taylor đã nói, “hướng nội và hướng thượng” - hoặc nói theo một cách khác, hướng thượng bằng cách hướng nội. Sự hối cải của thánh Augustine bao gồm rất nhiều kỉ luật lẫn tự hành hạ. Taylor, người ghi lại sử sách xuất hiện của cái tôi hiện đại trong cuốn Cơ sở của cái tôi (1992), viết rằng Augustine “bước vào thế giới nội tâm… bởi lẽ đó là bước đi tới Thiên Chúa”.


Tương tự, những thế kỷ sau và sau cuộc Cải Cách đã làm tiền đề cho cuộc đấu tranh của những Cơ Đốc nhân với lương tâm, triết gia Đan Mạch Søren Kierkegaard đã công nhận rằng nội tâm chính là con đường chủ chốt dẫn đến Chúa. Kierkegaard có cùng suy nghĩ với Augustine là đâu đó trong những chặng tìm sâu mơ hồ vào trong cuộc sống nội tâm - những gian nan tất cả chúng ta có biến thành chính chúng ta, theo cách diễn đạt của Augustine - chính là con đường đến Chúa. Hơn thế, Kierkegaard nhận ra kẻ thù của thói duy ngã ngay chính tại áp lực của việc tuân thủ trong xã hội “đại chúng hóa”. Chẳng khác mấy với những nhà văn nghiện Twitter ngày nay, ông bị kéo vào những búa rìu trên báo chí Copenhagen thế kỉ thứ 19 và nhận thức sâu sắc được sức ép và sự bóp méo mà truyền thông đại chúng từ thủa sơ khai mang lại. Kierkegaard đã thấy trong thế giới cộng đồng - “thành phố của loài người” như Augustine đã gọi - là một thách thức cho sự thức tỉnh tôn giáo và cho chính công trình sách vở của ông ấy, gồm những quyển sách và cả cuộc đời của triết gia, đến nỗi ông đã hủy cả đính ước với người phụ nữ mà ông yêu thương.


Với Kierkegaard, trạng thái điển trưng của sự tự khám phá, và những lần luân phiên vào cõi con người và trở lại vùng đất của Thiên Chúa, chính là sự ưu tư. Không đơn thuần chỉ là lo lắng về việc này việc khác, nỗi lo đặc trưng Kierkegaard chính là sự nhận thức về sự vô căn cứ khiếp hãi trong mọi hành vi của con người. Ưu tư đúng nghĩa theo Kierkegaard là nhìn nhận rõ tiềm năng khiết thuần của đời người và đón nhận đọa đày giáng lên chúng ta. Chấp nhận thay vì trốn tránh, nỗi ưu tư nhờ có một kiểu “nhắm mắt đưa chân” đối với Kierkegaard, cũng như đối với những triết gia hiện sinh đã theo bước ông, chính là bản chất của việc ta là chính ta.

17 views1 comment