Trật tự xã hội Nho gia

Trong các phần trước chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về rất nhiều khía cạnh của nho Giáo. Bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu “Xã Hội Nho Giáo” qua 5 phần: 1. Nguyên lý bất bình đẳng

2. Trật tự trong xã hội

3. Xã hội của Nho Giáo

4. Bình đẳng về Pháp Luật

5. Gia Tộc

Nguyên lý bất bình đẳng


Trong xã hội ngày nay con người ngày càng để cao quyền bình đẳng, bình đẳng giới tính, bình đẳng giai cấp…v.v… Nhưng khi nghiên cứu xã hội Nho giáo, ta nên nhớ nguyên lý quan trọng này: Bất bình đẳng là bản chất của vật. Nghe có vẻ vô lý nhưng thật sự lại rất phù hợp với quy luật của Vũ Trụ


Nguyên lý ấy dựng trên một quan niệm về huyền học. Trong sách Kinh Dịch – Hệ từ thượng có câu: “Trời là quý, đất là hèn, địa vị càn khôn đã định, thấp cao đã bầy, quý tiện đã yên” . Dịch – Tự quái truyện cũng nói: “Có trời đất rồi sau mới có vạn vật, có vạn vật rồi sau mới có trai gái, có trai gái rồi sau mới có vợ chồng, có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi, có vua tôi rồi sau mới có trên dưới, có trên dưới rồi sau lễ nghĩa mới có chỗ thi hành” .


Khổng Tử chỉ diễn nguyên lý đó trong kinh Dịch mà ít khi bàn với môn đệ. Đến đời sau, Mạnh Tử phát huy nó mạnh mẽ trong xã hội Nho Giáo tuy nhiên ông vấp phải rất nhiều ý kiến phản đối của chủ trương chống phân chia giai cấp. Họ cho rằng muốn cho nước bình trị thì mọi người đều phải cày lấy ruộng, nấu lấy cơm mà ăn, không có ai trị ai, không có ai nuôi ai nữa, tất cả mọi người đều làm việc như nhau, ai cũng như ai.


Cùng ngẫm lại nếu ai cũng như ai thì chẳng phải trẻ con cũng làm việc như người lớn, người già cả làm việc như người trẻ khỏe, phụ nữ như đàn ông, trong công ty cũng không cần phân biệt công việc của sếp với nhân viên, mọi phòng ban đều phải làm công việc giống nhau hay sao.


Chính Mạnh Tử cũng đã nói: “Vật không điều nhau là lẽ tự nhiên của vật. Có cái hơn gấp đôi, gấp năm, có cái hơn gấp mười, gấp trăm, có cái hơn gấp ngàn, gấp vạn, ông cho bằng nhau cả tức là làm loạn. Nếu dép lớn dép nhỏ bán cùng giá thì còn ai làm dép lớn nữa. Vậy thì đạo của Hứa Tử, tức là bảo nhau làm điều giả dối. Như vậy trị quốc sao được?”

Ta thấy, để bênh vực thuyết bất bình đẳng, Mạnh Tử không đứng trên khía cạnh huyền học như Khổng Tử mà đứng trên khía cạnh thực tế. Đến Tuân Tử, thì lại đứng trên khu vực công ích về chính trị:

“Người ta sống ở đời không thể không quần tụ, quần tụ mà không định phận trên dưới thì tranh đoạt nhau, tranh đoạt nhau thì loạn, loạn thì khốn khổ. Cho nên không định phận trên dưới là cái hại lớn của thiên hạ, định phận trên dưới là cái tội lớn của thiên hạ” (Phú quốc).



Trật Tự Trong Xã Hội

Vậy trật tự trong xã hội phải xây dựng trên những nguyên tắc nào? Đây mới là đặc điểm của Nho giáo, còn quan niệm bất bình đẳng chỉ là quan niệm chung của các chính trị gia thời cổ.

Mạnh Tử có nói : “Thiên hạ có ba bực đáng tôn: tước, tuổi và đức. Ở triều đình không gì đáng tôn bằng tước; ở hương đảng không gì đáng tôn bằng tuổi; giúp đời mà trị dân không gì bằng đức”.


Quy tắc thứ nhất là tước : Trong xã hội Nho Giáo thì những người có chức tước cao trong triều đình là những người có công lao, đức hạnh, người có chức tước càng cao thì công lao, đức hạnh càng nhiều đáng để những người khác phải tôn kính, quý trọng.


Quy tắc thứ hai là tuổi tác: Người xưa trọng tuổi tác, kính trên nhường dưới , trọng tuổi tác cũng là trọng kinh nghiệm, vốn sống , đạo đức , trẻ không được khinh già, con cháu phải hiếu kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ.


Quy tắc thứ ba là đức: tức tuỳ đức hạnh mà giao quyền hành, hợp lý hơn cả . Như đã nói ở trên những người những người có đức hạnh càng nhiều thì chức tước càng cao điều này cho thấy xã hội Nho Giáo luôn coi trọng người tài đức để giúp đời, trị dân, xây dựng đất nước vững mạnh




Xã Hội Của Nho Giáo

Theo nguyên lý bất bình đẳng và ba quy tắc tước, tuổi, đức mà trật tự trong xã hội Nho giáo được định. Trên cùng có Thượng Đế, rồi tới Thiên tử, các vua chư hầu; chư hầu có năm tước: công, hầu, bá, tử, nam; dưới nữa có đại phu, thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ. Trong triều đình, địa vị tuỳ tước và tài đức; trong làng và trong nhà, địa vị tuỳ theo tuổi.


Sự quy định về quyền hạn theo nguyên tắc nhiều khi rất tỉ mỉ. Chẳng hạn đời Chu, Thiên tử có đất vuông ngàn dặm, thì công và hầu được trăm dặm, bá được bảy chục dặm, tử và nam được năm chục dặm. Ở triều đình Thiên tử, chức khanh được chia đất ngang với tước bá, chức thượng sĩ được đất ngang với tước tử và nam. Trong nước vuông trăm dặm, lộc của vua gấp mười lộc của chức khanh, lộc của khanh gấp bốn lộc của đại phu, lộc của đại phu gấp hai lộc của thượng sĩ, thượng sĩ gấp hai trung sĩ, trung sĩ gấp hai hạ sĩ; thường nhân mà làm việc quan thì lộc ngang với hạ sĩ, lộc đó đủ ăn để khỏi phải cày bừa… (Mạnh Tử - Vạn Chương).


Về những nghi tiết cúng tế, ma chay thì không kể sao cho hết, như: cha làm thường dân mà con làm đại phu, thì khi chôn cất, áo quan của cha phải là áo quan của hạng thường dân, nhưng tang phục của con phải là tang phục đại phu.


Những lễ nghi đó đều có mục đích giữ cho dân khỏi loạn. Tuân Tử trong chương Lễ luận nói:

“Người sinh ra là có lòng muốn, muốn mà không được thì tất phải tìm kiếm, tìm kiếm mà không có chừng mực, giới hạn thì tất phải tranh nhau. Tranh nhau thì sinh loạn, loạn thì khốn khổ. Tiên vương ghét loạn, cho nên đặt ra lễ nghĩa để phân biệt trật tư, (…) Thế nào là phân biệt? Là sang hèn có bậc, lớn nhỏ có khác nhau, nghèo giàu, khinh trọng đều có địa vị xứng đáng”.


Lễ còn mục đích nữa để dân “rõ điều phải trái” (Lễ ký – Khúc lễ thượng) và để tiết chế tình cảm: “Lễ quý ở chỗ nó trừ điều ác từ khi chưa nẩy mầm ra, gây lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa tội lỗi mà tự không hay” (Đại Đái Lễ ký – Lễ tế)


Muốn cho dân giữ trật tự, đạo Nho dùng nhạc để giúp lễ thêm công hiệu. “Nhạc là động ở trong, lễ là động ra ngoài, cái cùng cực của nhạc là hoà, cái cùng cực của lễ là thuận” (Nhạc ký) . Lễ tiết chế lòng dục, nhạc điều hoà tính tình.


Bình đẳng về Pháp Luật

Tuy chủ trương bất bình đẳng trong xã hội, nhưng Nho giáo cho mọi giai cấp được bình đẳng về phương diện pháp luật vì sự công bằng đó cần thiết cho trật tự. Đó là một đặc điểm nữa của đạo Nho.


Vậy trên hai ngàn năm trước, nhờ Mạnh Tử, Trung Quốc đã phát minh chủ nghĩa tam quyền phân lập, chủ nghĩa bình đẳng trước pháp luật và tinh thần lập hiến trong chính thể quân chủ. Cứ theo đúng nguyên tắc thì ông vua của Nho giáo, quyền lợi bị hạn chế (chịu pháp luật của nhà nước, có số đất đai nhất định) gần như một ông vua lập hiến ngày nay, nhưng trách nhiệm và bổn phận thì nặng gấp mấy lần. Và tuy có giai cấp mà giai cấp ở Trung Hoa không như giai cấp ở châu Âu thời xưa. Dù hoàng thân mà kém đức thì cũng không bằng thường dân mà có nhân (Tuy hữu Chu thân, bất như nhân dân).


Gia Tộc

Xã hội Trung Hoa thời xưa cũng như xã hội La Mã, do sự kết hợp của ba đơn vị cá nhân, gia tộc và quốc gia; nhưng ở Trung Hoa, sự liên lạc giữa ba đơn vị đó mật thiết vô cùng.

Đức Khổng Tử nói: “ Tu Thân – Tề Gia – Trị Quốc – Bình Thiên Hạ”.


Cái thân đã sửa thì sau nhà mới tề; nhà đã tề thì sau nước mới trị; nước đã trị thì sau thiên hạ mới bình. Từ Thiên tử cho đến thường dân phải lấy sự sửa mình làm gốc, gốc loạn mà ngọn trị thì là điều không hề có”.


Trong Mạnh Tử - Ly Lâu cũng có câu: “Gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là ở nhà, gốc của nhà là ở thân mình”.


Vậy cá nhân, gia tộc, quốc gia, thiên hạ như bốn cái khoen móc vào nhau; hơn nữa, như bốn vòng tròn đồng tâm mà vòng nhỏ nhất là cá nhân, vòng lớn nhất là thiên hạ. Gia tộc không phải chỉ là một chỗ nghỉ ngơi của cá nhân theo quan niệm của phương Tây ngày nay, mà là một cơ quan của quốc gia, có tính cách chính trị, cho nên địa vị của gia tộc rất quan trọng.


Gia đình là một tiểu tổ chính trị thì cá nhân tất là một cán bộ chính trị. Trong xã hội Trung Quốc, từ trên xuống dưới ai cũng có nhiệm vụ chính trị, tức nhiệm vụ giữ trật tự trong xã hội bằng đạo đức, lễ nghi. Đó là lý tưởng của Nho giáo.


Tóm lại, xã hội theo Nho giáo xây dựng trên những nguyên lý:

- Các hạng người một mặt bất bình đẳng về tư cách mà hạng có đức đáng được trọng hơn cả.

- Một mặt bình đẳng trước pháp luật và trong nhiệm vụ; mỗi cá nhân là một cán bộ chính trị.

Một lần nữa, ta lại thấy rõ tính cách chính trị của Nho giáo. “Cha con yêu nhau, gốc là việc công”, lời đó bao hàm biết bao ý nghĩa!


17 views0 comments